Home Tin tức Tin nghiệp vụ Cơ hội và thách thức của Thư viện Việt Nam
Một vài hình ảnh về thư viện Tạ Quang Bửu

Cơ hội và thách thức của Thư viện Việt Nam

Chỉ mục bài viết
Cơ hội và thách thức của Thư viện Việt Nam
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Tất cả các trang

Ông Phạm Thế Khang

Nguyên Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam

Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Hội Thư viện Việt Nam

 

Cơ hội và tận dụng cơ hội  

Với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đặc biệt là các thế hệ cán bộ thư viện, hơn 50 năm qua, sự nghiệp thư viện Việt Nam đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ cả về bề rộng và chiều cao. Những thành tựu đã đạt được không chỉ là niềm tự hào mà hơn thế, nó đã trở thành những cơ hội cực kỳ thuận lợi để thư viện Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh hơn, rộng hơn và hiệu quả hơn. Có thể nhận thấy ngay những cơ hội đã và đang đến với ngành thư viện Việt Nam là:

- Theo số liệu của Vụ Thư viện, tính đến cuối năm 2010, cả nước đã hình thành mạng lưới thư viện rộng khắp, bao gồm: gần 18.000 thư viện, tủ sách công cộng; hơn 400 thư viện đại học và cao đẳng, gần 1.000 thư viện, tủ sách trong lực lượng vũ trang; hơn 80 thư viện chuyên ngành và gần 25.000 thư viện trường học phổ thông…Tương đương với số lượng thư viện, tủ sách đó, chúng ta có hơn 30.000 cán bộ thư viện trình độ từ sơ cấp tới cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ được đào tạo cơ bản trong nước và nước ngoài. Hiện nay, chúng ta đã có một số thư viện có thể xếp ngang hàng với các thư viện tiên tiến của các nước ở khu vực Đông Nam Á.

- Từ 1 cơ sở đào tạo cán bộ thư viện bậc đại học duy nhất tại Đại học Văn hóa Hà Nội, đến nay cả nước đã có 7 trường đào tạo cử nhân thư viện, trong đó 3 trường có đào tạo thạc sĩ và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội được giao nhiệm vụ đào tạo bậc tiến sĩ. Ngoài ra, chúng ta còn có vài chục trường Văn hóa - Nghệ thuật ở các tỉnh đào tạo cán bộ trung cấp và cao đẳng thư viện.

- Hành lang pháp lý cần thiết cho ngành thư viện phát triển đã được hình thành với hàng loạt các văn bản pháp quy. Sau 10 năm Pháp lệnh Thư viện được ban hành, hiện nay chúng ta đang xúc tiến việc xây dựng Luật Thư viện Việt Nam. Song song với sự phát triển, các cơ quan quản lý nhà nước về thư viện cũng đã được kiện toàn. Các thư viện đã được tổ chức theo những mô hình thích hợp để thống nhất quản lý, chỉ đạo theo phương hướng: “thống nhất, chuẩn hóa, chia sẻ và hội nhập”. Việt Nam đã thành lập Hội Thư viện làm “nơi tập hợp những ý tưởng, khát vọng, chia sẻ kinh nghiệm, tâm tư, tình cảm, là diễn đàn dân chủ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cán bộ thư viện…”

Ba cơ hội trên có tính chất nội sinh, phần nhiều do các nhân tố trong nước, đặc biệt là cán bộ ngành thư viện góp phần tạo nên. Ngành thư viện đã tranh thủ khai thác khá tích cực các cơ hội này, tạo nên nhiều thành tích rất đáng tự hào trong những năm qua. Tuy nhiên, những thành tích đó chưa tương xứng với tiềm năng của số lượng đơn vị và cán bộ thư viện. Nhìn chung, hiệu quả phục vụ xã hội của ngành thư viện còn rất hạn chế cả về khối lượng và chất lượng. Các trường đạo tạo cán bộ thư viện tuy phát triển nhanh nhưng chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu phát triển của ngành trong thời kỳ mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiệu quả hoạt động và đào tạo còn hạn chế mà cơ bản nhất là hiệu quả của việc thống nhất cả nước về quản lý và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ trong toàn ngành chưa cao. Các thư viện và các cơ sở đào tạo còn thiếu liên kết, phối hợp trong thống nhất chương trình và phương pháp đào tạo nên hiệu quả còn hạn chế. Lần đầu tiên chúng ta có Pháp lệnh Thư viện nhưng văn bản pháp lý cao nhất này chưa thực sự đi vào cuộc sống. Hội Thư viện mới thành lập, nội dung và phương thức hoạt động còn nhiều lúng túng nên việc tuyên truyện, vận động, tập hợp hội viên và tổ chức hoạt động chưa được nhiều.