Quản trị tri thức và khả năng ứng dụng trong thư viện các trường đại học

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà nền kinh tế thế giới đang chuyển biến từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên hạn hẹp của thiên nhiên sang một nền kinh tế của thông tin và trí tuệ. Các tài nguyên thiên nhiên bị gạt ra ngoài chương trình cạnh tranh, chỉ duy nhất có tri thức và kỹ năng là các nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Đặt vấn đề

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà nền kinh tế thế giới đang chuyển biến từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên hạn hẹp của thiên nhiên sang một nền kinh tế của thông tin và trí tuệ. Các tài nguyên thiên nhiên bị gạt ra ngoài chương trình cạnh tranh, chỉ duy nhất có tri thức và kỹ năng là các nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Năm 1995, Peter Drucker, một chuyên gia hàng đầu thế giới về tư vấn quản trị, tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI” đã nhận định: “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức, trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không phải là vốn mà là tri thức” và “Tri thức đã và đang là một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị của lợi thế cạnh tranh” [1].

Như vậy, từ những năm cuối của thế kỷ trước, tri thức đã được thừa nhận là nhân tố chính trong tăng trưởng kinh tế và tạo nên lợi thế cạnh tranh. Vai trò của quản trị tri thức nổi lên và trở thành xu hướng toàn cầu.

Vậy quản trị tri thức là gì và quản trị tri thức có ý nghĩa thế nào trong hoạt động của thư viện các trường đại học hiện nay? Đó là câu hỏi mà bài viết này mong muốn góp phần giải đáp.

Tri thức và quản trị thi thức

Tri thức (Knowledge) là một sự nhận thức hay sự hiểu biết của con người về một cái gì đó, chẳng hạn như những sự kiện, thông tin, những mô tả, hoặc kỹ năng, chúng có được thông qua trải nghiệm hoặc giáo dục, bằng nhận thức, khám phá và học hỏi.

Theo Từ điển Oxford, “Tri thức là những sự kiện, thông tin và kỹ năng mà con người có được qua trải nghiệm hoặc giáo dục; là sự hiểu biết lý thuyết hay thực tiễn về một chủ đề” [3].

Sự hình thành tri thức liên quan đến các quá trình nhận thức phức tạp: tri giác, truyền đạt, liên hệ và suy luận. Tri thức có thể coi là năng lực hiểu biết trong mỗi con người.

Về mặt cấp bậc, tri thức ở vị trí cao nhất trong chuỗi khái niệm dữ liệu - thông tin - tri thức. Dữ liệu là một tập hợp các sự kiện, sự việc khách quan, rời rạc được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gắn với bối cảnh. Dữ liệu có thể tồn tại dưới dạng văn bản, hình ảnh, hoặc âm thanh. Dữ liệu khi qua xử lý, tức là qua phân loại, phân tích, tổng hợp, đặt vào một bối cảnh và trở nên có ý nghĩa đối với người nhận thì trở thành thông tin. Có thể nói thông tin là dữ liệu có ý nghĩa sau khi đã qua xử lý. Thông tin trở thành tri thức khi nó được nhận thức và khẳng định giá trị qua sự tiếp nhận có phê phán của tư duy. Có thể nói tri thức là thông tin hữu ích được nhận thức bởi trí tuệ của con người.

Tri thức tồn tại trong mỗi cá nhân và được coi là tri thức ẩn tàng (tacit knowledge). Tri thức ẩn tàng thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng… Thách thức cố hữu với tri thức ẩn tàng là làm thế nào để nhận ra, tạo lập, chia sẻ và quản lý nó. Khi tri thức ẩn tàng được ghi ra dưới một hình thức nào đó như chữ viết, âm thanh, hình ảnh thì chúng trở thành tri thức tường minh (explicit knowledge). Đây là những tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo.

Trong mối quan hệ giữa hai khái niệm, thông tin và tri thức chỉ là những cấp độ khác nhau của sự hiểu biết: biết cái gì (know - what) là thông tin; biết tại sao (know - why) là tri thức khoa học; biết thế nào (know - how) là tri thức về công nghệ.

Có thể nói tri thức là kho tàng của sự hiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của con người. Tri thức có những đặc trưng sau đây:

- Việc sử dụng tri thức không làm giảm đi giá trị của chúng.

- Sự chuyển giao tri thức không làm tri thức mất đi.

- Tri thức rất phong phú nhưng khả năng sử dụng lại rất hạn chế.

Nói về vai trò của tri thức, Sheeja (2012) cho rằng: “Tri thức là yếu tố bắt buộc đối với sự phát triển; mọi việc chúng ta làm đều phụ thuộc vào tri thức” [2]. Ngay từ thời cổ đại con người đã biết "Tri thức là sức mạnh". Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, tri thức đang trực tiếp tạo ra quyền lực, tiền bạc và sức cạnh tranh. Tri thức được xem là hàng hoá có giá trị nhúng trong các sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm chất lượng cao. Việc nắm bắt, sáng tạo và phổ biến tri thức hơn bao giờ hết trở thành yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo ra năng lực cạnh tranh. Quản trị tri thức là một trong những chủ đề nóng hiện nay trong cả giới công nghiệp và giới nghiên cứu.

Quản trị tri thức (Knowledge Management - KM) là một khái niệm và một thuật ngữ mới xuất hiện vào khoảng đầu những năm 1990.

Mặc dù có nhiều lý thuyết về quản trị tri thức, nhưng hiện không có một định nghĩa nào về quản trị tri thức được tất cả mọi người chấp nhận.

Trong cuốn sách “People-Focused Knowledge Management”, Karl M. Wiig định nghĩa: Quản trị tri thức là quá trình sáng tạo, phát triển và ứng dụng tri thức một cách có hệ thống và minh bạch nhằm tối đa hoá hiệu quả hoạt động liên quan đến tri thức và giá trị doanh nghiệp từ tri thức và tài sản trí tuệ sẵn có,…

Chi tiết, xin mời các bạn truy cập theo đường link: https://nlv.gov.vn/nghiep-vu-thu-vien/quan-tri-tri-thuc-va-kha-nang-ung-dung-trong-thu-vien-cac-truong-dai-hoc.html 
(Trích nguồn Thư viện Quốc Gia Việt Nam)

PGS. TS. Đoàn Phan Tân